Lưu trữ‎ > ‎CMKT‎ > ‎

Lưu trữ số

Bộ nhớ RAM và ổ đĩa lưu trữ


Hiện nay dữ liệu có thể lưu trên rất nhiều thiết bị lưu trữ, từ ổ cứng trong của máy tính, đến ổ cứng ngoài, thẻ nhớ. Ngoài ra ổ lưu trữ thể rắn (SSD) cũng là một sản phẩm dần trở nên phổ biến do mức giá ngày càng rẻ.

Cơ bản về thiết bị lưu trữ, phần 1

Một vài thiết bị lưu trữ số: hai thanh RAM (cho máy tính để bàn và laptop), một ổ SSD, một ổ cứng của laptop, và một ổ cứng của máy bàn

Mỗi thiết bị lại có rất nhiều thông số cần quan tâm, như dung lượng, tốc độ trao đổi dữ liệu, giao diện kết nối… có thể làm người dùng bối rối khi muốn lựa chọn.

Bài viết dưới đây của CNET sẽ làm rõ một số khái niệm, và giúp bạn phân biệt được các thiết bị lưu trữ phổ biến nhất hiện nay.

1. Các đơn vị đo dung lượng

Đầu tiên, có lẽ ta cần làm quen với các đơn vị để đo dung lượng lưu trữ. Trên máy tính, đơn vị đo nhỏ nhất thường thấy là bit, là đơn vị nhị phân để chỉ giá trị 0 hoặc 1. Bit thường dùng trong các đơn vị chỉ tốc độ, ví dụ như tốc độ kết nối Internet, được đo bằng số bit được truyền trong một giây.

Đơn vị tiếp theo thường thấy là byte (ký hiệu là B). Một byte là một chuỗi gồm 8 bit. So với bit, byte thường được dùng nhiều hơn để chỉ các đơn vị đo dung lượng lưu trữ. Bạn có thể nghĩ về byte như là một chữ cái trong một văn bản. Ví dụ, ta cần 4 byte để lưu trữ từ "byte". Tuy nhiên byte là đơn vị quá nhỏ, và trong thực tế ta thường gặp các đơn vị như kilobyte, megabyte, gigabyte và terabyte.

Kilobyte (KB hoặc kB): Theo định nghĩa thì 1 kilobyte bằng 1024 byte. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, người ta coi 1 kilobyte bằng 1.000 byte.

Megabyte (MB): Theo định nghĩa thì 1 megabyte bằng 1.000.000 byte. Tuy nhiên do sự chênh lệch giữa hệ thập phân và hệ nhị phân, 1 megabyte có khi được hiểu là 1.048.576 byte hoặc thậm chí 1.024.000 byte. Với bộ nhớ lưu trữ, 1 megabyte được hiểu là 1.000.000 byte.

Gigabyte (GB): Gigabyte là đơn vị thường chỉ dùng cho bộ nhớ lưu trữ. 1 gigabyte tương ứng 1.000.000.000 byte.

Lưu ý: Có một đơn vị khác được gọi là gibibyte (GiB), và 1 GiB tương đương 1.073.741.824 byte, hay 230 byte. Các con số quy đổi của kilobyte, megabyte và gigabyte như đã nói ở trên là tuân theo chuẩn của IEEE, một tổ chức chuẩn hóa trong lĩnh vực điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin. Tuy nhiên theo chuẩn bộ nhớ JEDEC, 1 gigabyte tương đương với 1.073.741.824 byte. Chuẩn JEDEC cũng là chuẩn được Microsoft sử dụng trong hệ điều hành Windows, do đó đã gây ra nhiều sự hiểu lầm về bộ nhớ. Ví dụ, một ổ cứng có dung lượng 500 GB, sau khi được định dạng trong Windows, sẽ hiển thị dung lượng bộ nhớ khoảng 465 GB. Đây chỉ là vấn đề về cách hiểu.

Terabyte (TB): Theo định nghĩa, 1 terabyte bằng 1.000.000.000.000 bytes, hoặc 1.000GB.

Hiện tại, ổ cứng 3,5 inch (thông dụng trong các máy tính để bàn) có dung lượng lớn nhất là 4 TB. Hầu hết máy tính hiện nay có dung lượng lưu trữ từ 120 GB tới 2 TB. Các thiết bị di động, như điện thoại di động hay máy tính bảng, có bộ nhớ từ 8 GB tới 120 GB.

Lưu ý: 

2. Lưu trữ và bộ nhớ

Đây là hai khái niệm thường bị hiểu lầm, nhưng bản chất rất khác nhau.

Lưu trữ, hay thiết bị lưu trữ, nói đơn giản là nơi lưu giữ các thông tin (ví dụ như văn bản Word, ảnh, phim, các chương trình). Trong máy tính, các hệ điều hành, ví dụ như Windows 7 hay Mac OS, cũng được lưu trên thiết bị lưu trữ trong. Bộ lưu trữ là bộ nhớ bất biến, tức là thông tin vẫn được lưu lại khi thiết bị (ví dụ như máy tính) bị tắt đi, và có thể truy cập khi thiết bị được bật lại. Nó cũng giống như một cuốn sách hay cuốn vở luôn sẵn sàng để bạn đọc và ghi.

Bộ nhớ (hay còn gọi là bộ nhớ hệ thống, bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên, hay RAM) là nơi thông tin được lưu để xử lý. Dữ liệu trong bộ nhớ hệ thống sẽ mất đi khi máy tính tắt. Khi ấy bộ nhớ trống không, không còn lưu lại gì. Nó cũng giống như bộ nhớ ngắn hạn trong bộ óc người, những hình ảnh hoặc ý tưởng được sinh ra và xử lý khi ta đọc sách, nhưng sẽ biến mất khi ta ngừng đọc.

Khi bạn bật máy tính, hầu hết thời gian khởi động là để hệ điều hành được đọc từ thiết bị lưu trữ chính của máy tính – như ổ cứng – vào bộ nhớ. Khi quá trình khởi động kết thúc tức là máy tính đọc xong và sẵn sàng làm các công việc khác.

Mặc dù có bản chất khác nhau, thiết bị lưu trữ và bộ nhớ vẫn có những mối liên quan. Ví dụ, văn bản Word mà bạn đang làm việc dở, được lưu trong bộ nhớ. Khi bạn lưu nó lại, một bản sao được lưu vào thiết bị lưu trữ của máy tính. Khi bạn tắt hoàn toàn Word, văn bản giờ chỉ nằm trên ổ cứng (thiết bị lưu trữ) và không còn được lưu trên bộ nhớ, cho tới khi bạn mở nó lên lần nữa.

Cơ bản về thiết bị lưu trữ, phần 1

Bộ nhớ của hệ thống đắt hơn nhiều so với thiết bị lưu trữ, xét trên cùng dung lượng

Điều này có nghĩa là bạn không thực sự thấy được thiết bị lưu trữ. Tất cả những gì hiện lên trên màn hình máy tính hay được phát qua loa thực chất đều được lưu trên bộ nhớ. Dù vậy, trước khi được đưa vào bộ nhớ, nó cần phải được đọc từ thiết bị lưu trữ của máy tính. Do vậy bộ nhớ càng có dung lượng lớn và tốc độ cao thì thông tin càng sẵn sàng nhanh hơn, và bạn có thể làm nhiều việc trên máy tính cùng một lúc (đa nhiệm). Thực tế dung lượng bộ nhớ bạn cần ít hơn dung lượng lưu trữ rất nhiều. Hầu hết máy tính mới hiện nay có dung lượng bộ nhớ ở mức từ 2 GB tới 8 GB, và bạn không cần nhiều hơn thế. Vậy cũng tốt, vì nếu so cùng mức dung lượng, thì bộ nhớ đắt hơn thiết bị lưu trữ rất nhiều.

Tất nhiên, bộ nhớ chỉ là một trong các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu năng của máy tính. Một yếu tố khác chính là thiết bị lưu trữ, ổ cứng (HDD) hoặc ổ lưu trữ thể rắn (SSD).

3. Ổ cứng và ổ lưu trữ thể rắn

Ổ cứng là thiết bị lưu trữ phổ biến nhất trong vài thập niên gần đây, bắt đầu trở nên phổ biến từ những năm 1960. Ổ lưu trữ thể rắn lại khá mới, và chỉ bắt đầu phổ biến trong 3 năm trở lại đây. Trong hầu hết các trường hợp, chúng có thể sử dụng thay thế cho nhau, và cả hai đều có những ưu và nhược điểm.

A. Ổ cứng (HDD): Mặc dù ổ cứng đã phát triển rất nhiều so với giai đoạn ban đầu, những điểm cơ bản của nó vẫn giữ nguyên. Đó là một cái hộp chứa một vài đĩa từ (được gọi là phiến đĩa) được gắn quanh một trục, giống như trục của đĩa CD hoặc DVD. Mỗi phiến đĩa có một đầu đọc/ghi gắn lên trên. Khi trục quay, đầu đọc cũng di chuyển ra vào liên tục để đọc hoặc ghi dữ liệu trên bất kỳ phần nào của phiến đĩa, trên một đơn vị lưu thông tin gọi là "data track". Hình thức truy cập dữ liệu này được gọi là "truy cập ngẫu nhiên", khác với hình thức "truy cập liên tục" kém hiệu quả trên các loại thiết bị lưu trữ cũ như băng từ.

Mặc dù ý tưởng rất đơn giản, thiết kế bên trong của một ổ cứng hiện đại là một thế giới đầy những công nghệ hiện đại. Do dung lượng lưu trữ của ổ cứng tăng lên trong khi kích thước thật của chúng vẫn giữ nguyên, mật độ thông tin được lưu trữ trên phiến đĩa dày đặc đến nỗi ta phải dùng đơn vị đo là nm (nano mét - nanometer). Một nm bằng một phần tỷ của mét.

Trong một ổ cứng 2,5 inch, ví dụ như chiếc Western Digital Scorpio Blue, khoảng cách giữa đầu ghi và phiến đĩa chỉ là vài nm. Hai thành phần này không được phép chạm vào nhau – nếu không ổ cứng sẽ hỏng – và khi ổ cứng hoạt động, phiến đĩa quay với tốc độ 5400 vòng/phút (ổ cứng trên máy tính bàn hay các laptop cao cấp có tốc độ quay cao hơn, 7200 hoặc 10.000 vòng/phút). Nếu ta phóng to ổ cứng lên 13.000 lần, phiến đĩa sẽ giống như một đường đua hình tròn với đường kính khoảng 5,3 km, một data track dài khoảng hơn 1 cm, và đầu đọc có kích thước như một chiếc xe đua. Khi ổ cứng hoạt động, chiếc "xe đua" sẽ bay trên đường đua với khoảng cách chưa bằng một sợi tóc, với tốc độ hơn 5,4 triệu km/giờ.

Cơ bản về thiết bị lưu trữ, phần 1

Ổ cứng 2,5 inch  và 3,5 inch

Ổ cứng có hai kích cỡ chính, 3,5 inch (cho máy tính để bàn) và 2,5 inch (cho máy tính xách tay). Ổ cứng của máy tính xách tay cũng có một vài loại độ dày, như 9,5 mm (thông thường) hay 7 mm (siêu mỏng). Một ổ cứng được kết nối với máy tính thông qua một giao diện chuẩn.

Giao diện kết nối: Đây là chuẩn cho biết loại kết nối, cũng như tốc độ truyền dữ liệu giữa máy tính (hoặc một ổ SSD thông thường) và máy tính. Hiện nay có khá nhiều chuẩn kết nối, nhưng hầu hết ổ cứng cho người dùng phổ thông sử dụng chuẩn ATA nối tiếp (Serial ATA, hoặc SATA). Chuẩn này có ba thế hệ, bao gồm SATA I, SATA II, và SATA III, tương ứng với tốc độ tối đa là 1,5 Gbps, 3 Gbps và 6 Gbps. Thế hệ SATA mới nhất tương thích ngược với các thế hệ trước. Về mặt tốc độ, nếu sử dụng đúng chuẩn thì bạn sẽ có tốc độ tối ưu nhất.

Ưu điểm của ổ cứng: Nhìn chung ổ cứng có dung lượng lớn trên mỗi đơn vị (hiện tại dung lượng tối đa với ổ 3,5 inch là 4 TB, còn ổ 2,5 inch là 2 TB). Ổ cứng cũng có mức giá rẻ hơn, với giá cho mỗi gigabyte dung lượng tại Việt Nam chỉ vào khoảng 2000 đồng/gigabyte. Do đó, ổ cứng vẫn là thiết bị lưu trữ thông dụng nhất cho máy tính và việc lưu dữ liệu cũng chủ yếu dùng với ổ cứng.

Nhược điểm của ổ cứng: Do ổ cứng là một thiết bị cơ học, nó cũng chịu tác động khi hoạt động lâu ngày. Nó cũng tốn nhiều năng lượng hơn (so với SSD), sinh nhiệt, và chậm hơn nhiều. Ổ cứng cũng mất một thời gian để chuyển từ trạng thái nghỉ sang trạng thái hoạt động, khiến máy tính khởi động chậm. Nhìn chung, một ổ cứng với thời gian hoạt động trung bình, có thể dùng trong 5 năm.

Cơ bản về thiết bị lưu trữ, phần 1

Ổ SSD (bên trái) và ổ cứng laptop thường

B. Ổ lưu trữ thể rắn (SSD): Không giống như ổ cứng, trong SSD không có một thành phần nào chuyển động. Giống như bộ nhớ của hệ thống, SSD được tạo từ các chip nhớ có công dụng lưu thông tin. Tuy nhiên các chip nhớ này là loại bất biến, và có thể lưu lại thông tin sau khi tắt máy giống như ổ cứng. Hầu hết SSD thông thường có kích cỡ 2,5 inch, và nhìn bên ngoài thì chúng cũng giống các ổ cứng 2,5 inch thông thường. Các ổ SSD có thể lắp trong các vỏ máy thông thường, chung với các ổ cứng có cùng giao diện. Do trong SSD không có thành phần chuyển động, SSD có thể có bề ngoài với rất nhiều kích cỡ và kiểu dáng, khiến cho nó trở thành lựa chọn tốt nhất cho các thiết bị di động, như smartphone hay máy tính bảng. Nhìn chung thời gian sử dụng của một SSD phụ thuộc vào số lần bạn ghi dữ liệu vào ổ (càng ít càng tốt), và dung lượng của ổ (càng lớn càng tốt).

Cơ bản về thiết bị lưu trữ, phần 1

Bên trong của SSD và ổ cứng. Khi mở nắp ổ cứng, nó sẽ không thể hoạt động được nữa. Tuy nhiên SSD không có thành phần nào di chuyển khi hoạt động, và do vậy vẫn dùng được kể cả khi không có nắp

Ưu điểm của SSD: Nhanh hơn rất nhiều so với ổ cứng thông thường, tiết kiệm năng lượng hơn, bền bỉ hơn, hoạt động mát và êm hơn. Việc nâng cấp ổ lưu trữ chính trên máy tính từ ổ cứng lên SSD sẽ đem lại lợi ích rất lớn về mặt hiệu năng. Hầu hết SSD đều có thể dùng trong hơn 5 năm, một vài trường hợp có thể kéo dài tới hàng trăm năm.

Nhược điểm của SSD: Nhược điểm lớn nhất của SSD là giá. Hiện tại giá trên mỗi GB dung lượng của ổ SSD ở Việt Nam cao hơn ổ cứng khoảng 10 – 15 lần. Dung lượng lưu trữ của SSD cũng là giới hạn, với dung lượng tối đa, ở mức giá không quá bất hợp lý, là 512 GB. Hiệu năng của SSD cũng sẽ suy giảm sau một số lần ghi nhất định; có nghĩa là, một SSD chỉ có một số lần ghi hạn định. Sau khi vượt quá số lần ghi đó, nó sẽ trở nên không thể tin cậy. Trước khi bạn muốn tiếp tục ghi vào một phần của ổ, bạn sẽ phải xóa thông tin được lưu trên phần đó. Đây là lý do số lần ghi giới hạn còn được gọi là số vòng ghi/xóa (PE). Trong thực tế, đây không phải vấn đề lớn vì đến khi SSD đạt đến giới hạn ghi thì nhiều khả năng nó đã được thay thế rồi.

SSD sử dụng tốt nhất trong vai trò thiết bị lưu hệ điều hành của máy tính; nó sẽ làm tăng hiệu năng tổng thể của máy lên rất nhiều nếu so sánh với ổ cứng. Đối với máy tính để bàn, bạn có thể sử dụng SSD như là ổ chính và thêm ổ cứng khác để lưu trữ dữ liệu. Đây là giải pháp tốt nhất để cân bằng giữa hiệu năng, giá thành, và không gian lưu trữ. Hoặc bạn cũng có thể chọn giải pháp ổ lai.

C. Ổ lai: Giống như cái tên, ổ lai là loại ổ có cả phiến đĩa và không gian lưu trữ trên chip nhớ trong cùng một vỏ. Các loại ổ lai sử dụng một thuật toán để tự động đưa các tập tin được truy cập nhiều nhất, ví dụ các tập tin của hệ điều hành, vào phần chip nhớ flash, và chuyển các tập tin ít thay đổi, như phim ảnh, vào phần ổ cứng. Giải pháp này đem lại hiệu năng gần như SSD mà không có giá quá cao hay bị giới hạn về không gian lưu trữ. Hiện nay, loại ổ lai thông dụng nhất là Seagate Momentus XT. Apple gần đây cũng công bố loại ổ lai của riêng họ, gọi là Fusion Drive.

Kiểm nghiệm thực tế, ổ lai có làm tăng hiệu năng của máy tính nếu so với ổ cứng thông thường, nhưng không thể nào nhanh bằng SSD.

Ổ đĩa gắn ngoài và máy chủ NAS


Hai loại thiết bị lưu trữ cắm ngoài được đề cập lần lượt là thiết bị lưu trữ kết nối trực tiếp (DAS - Direct-attached storage) và thiết bị lưu trữ kết nối qua mạng (NAS - Network-attached storage). Cả hai đều lưu dữ liệu trong các ổ lưu trữ gắn trong (ổ cứng hặc SSD). Để đơn giản, phần sau sẽ đề cập DAS dưới tên ổ gắn ngoài Một vài khái niệm thường gặp.

Trước tiên, ta sẽ tìm hiểu một số thuật ngữ thường gặp đối với các thiết bị lưu trữ gắn ngoài.

Hỗ trợ một ổ đĩa

Khái niệm này có nghĩa là thiết bị gắn ngoài chỉ bao gồm một ổ lưu trữ gắn trong. Một thiết bị gắn ngoài một ổ có dung lượng tối đa chính là dung lượng của ổ gắn trong, lên tới 4 TB với ổ kích thước 3,5 inch và 2 TB với ổ 2,5 inch.

Hỗ trợ nhiều ổ đĩa

Cơ bản về lưu trữ số, phần 2

Hai ổ gắn ngoài loại lớn, hỗ trợ nhiều ổ cứng, và các ổ gắn ngoài loại nhỏ

Các thiết bị gắn ngoài hỗ trợ nhiều ổ đĩa có thể gắn nhiều ổ lưu trữ. Số ổ lưu trữ hỗ trợ có thể từ 2 ổ, như chiếc WD VelociRaptor Duo, tới 6 ổ, như chiếc Promise Pegasus R6.

Việc hỗ trợ nhiều ổ đĩa vừa giúp tăng dung lượng tối đa, vừa cho phép sử dụng các tính năng như RAID.

RAID

RAID (viết tắt của Redundant Array of Independent Disk) là hình thức cho phép kết hợp nhiều ổ lưu trữ lại thành một hệ thống lưu trữ duy nhất và yêu cầu có ít nhất là 2 ổ gắn trong. Tùy thuộc vào phương thức kết hợp, RAID có thể đem lại tốc độ cao hơn hoặc dung lượng lớn hơn, hoặc cả hai. Thông thường bạn cần phải sử dụng các ổ có cùng dung lượng cho RAID. Dưới đây là các phương thức RAID thông dụng:

RAID 1: Còn được gọi là hình thức phản chiếu dữ liệu, yêu cầu ít nhất 2 ổ gắn trong. Trong phương thức này, dữ liệu được ghi giống hệt nhau cùng lúc vào 2 ổ. Hệ thống RAID 1 có thể tiếp tục hoạt động kể cả khi một trong hai ổ bị hỏng, cho phép bạn thay nóng ổ bị hỏng mà không làm ảnh hưởng tới dữ liệu. Điểm yếu của RAID 1 là dù cho bạn có sử dụng bao nhiêu ổ cứng thì dung lượng bạn có thể dùng cũng chỉ tương đương 1 ổ. RAID 1 cũng không đem lại sự cải thiện về tốc độ và được dùng chủ yếu cho các thiết bị hỗ trợ 2 ổ.

RAID 0: Giống như RAID 1, RAID 0 cũng yêu cầu ít nhất 2 ổ gắn trong. Tuy nhiên RAID 0 hoạt động theo phương thức tổng hợp dung lượng của mỗi ổ lại thành một hệ thống lưu trữ chung, đem lại băng thông cao hơn và dung lượng tối đa. Tuy nhiên do dữ liệu ở RAID 0 được ghi theo kiểu tách rời, tức là được chia thành nhiều phần để lưu ở các ổ, nên nếu như một trong các ổ bị hỏng, dữ liệu trên tất cả các ổ còn lại cũng không dùng được. Do vậy tuy RAID 0 đem lại tốc độ và dung lượng cao hơn, khả năng xảy ra hỏng hóc cũng lớn hơn. RAID 0 được dùng chủ yếu cho các thiết bị hỗ trợ hai ổ. Nếu như chọn sử dụng RAID 0, việc sao lưu dữ liệu là bắt buộc.

RAID 10: Phương thức này chủ yếu dùng cho các thiết bị hỗ trợ 4 ổ gắn trong. Nó là sự kết hợp giữa RAID 1 và RAID 0, với hiệu năng và độ an toàn đều được nâng cao.

RAID 5: Phương thức này yêu cầu ít nhất 3 ổ gắn trong và lưu dữ liệu trên tất cả các ổ trong khi đảm bảo sự an toàn dữ liệu của hệ thống. Các đoạn dữ liệu được ghi đều lên các ổ, và được sao lưu bằng thuật toán, để đảm bảo nếu một đoạn dữ liệu bị hỏng thì nó có thể được khôi phục từ bản sao lưu và các đoạn dữ liệu còn lại. Điều này giúp đảm bảo dữ liệu của toàn hệ thống không bị mất nếu như chỉ có một ổ gắn trong hỏng.

Mặc dù khi một ổ hỏng thì dữ liệu cả hệ thống không mất, hiệu năng sẽ suy giảm cho tới khi bạn thay thế ổ hỏng. Do cân bằng được các yếu tố như dung lượng lưu trữ (khi sử dụng nhiều ổ, bạn chỉ mất dung lượng tương đương 1 ổ cho sao lưu, phần dung lượng còn lại có thể dùng để lưu trữ dữ liệu), hiệu năng và an toàn dữ liệu, RAID 5 là phương thức được ưu tiên.

RAID khá phức tạp, do vậy nếu bạn không hoàn toàn hiểu rõ các phương thức thì đó cũng là điều bình thường. Một điểm tiện lợi là các thiết bị lưu trữ ngoài hỗ trợ RAID đều đã thiết lập RAID sẵn, nên hầu như bạn sẽ không phải tự thiết lập để sử dụng RAID.

Tháo nóng: Tháo nóng là tính năng chỉ có trong các hệ thống RAID có sao lưu (tức là không thực hiện được với RAID 0), cho phép bạn thay một ổ đĩa trong mà không cần rút nguồn của cả hệ thống lưu trữ. Đây là tính năng cần thiết khi bạn muốn thay một ổ bị hỏng mà vẫn muốn hệ thống lưu trữ tiếp tục hoạt động với máy tính hoặc mạng.

JBOD: Bên cạnh RAID, những thiết bị gắn ngoài hỗ trợ nhiều ổ cũng thường có tính năng JBOD. JBOD (viết tắt của Just a Bunch Of Disk) là cách thiết lập nhiều ổ gắn trong hoạt động riêng rẽ và không liên hệ với nhau. Nói cách khác, nếu như bạn cắm một thiết bị gắn ngoài có 2 ổ và hoạt động theo kiểu JBOD, sẽ có hai ổ hiện lên trên hệ điều hành.

A. Ổ gắn ngoài

Ổ gắn ngoài được gọi là thiết bị lưu trữ kết nối trực tiếp (DAS) do nó được kết nối trực tiếp tới máy chủ – máy tính, server hay thiết bị giải trí – và bổ sung thêm dung lượng lưu trữ cho thiết bị. Có hai loại ổ gắn ngoài chính: ổ loại nhỏ và ổ loại lớn.

Ổ loại nhỏ

Đây là loại ổ gắn ngoài có ổ bên trong là ổ 2,5 inch (ổ cho laptop), có thể sử dụng ổ cứng thường HĐ hoặc ổ cứng thể rắn SSD. Nhìn chung loại ổ này gọn, nhẹ và tiện mang theo. Ổ loại nhỏ gần như chỉ được chia thành một ổ trong hệ điều hành và thường sử dụng điện được cấp trực tiếp qua sợi cáp kết nối. Điều này có nghĩa là bạn sẽ không cần phải sử dụng thêm một nguồn điện ngoài cho ổ loại nhỏ.  Các ổ gắn ngoài loại nhỏ được thiết kế cho những người cần mang theo dữ liệu bên mình, như người dùng laptop hoặc cho mục đích chuyển dữ liệu giữa các máy tính một cách dễ dàng.

Cơ bản về lưu trữ số, phần 2

Elgato Thunderbolt SSD, ổ gắn ngoài loại nhỏ sử dụng kết nối Thunderbolt

Hầu hết các ổ gắn ngoài loại nhỏ đều kết nối qua cổng USB. Elgato Thunderbolt SSD là ổ loại nhỏ đầu tiên sử dụng kết nối Thunderbolt.

Ngoài ra còn một thiết bị lưu trữ rất nhỏ gọn khác, không sử dụng ổ gắn trong mà dùng chip nhớ để lưu trữ. Thiết bị này có thể gọi là ổ nhớ USB, mặc dù người Việt Nam vẫn hay gọi nó là "cái USB". Chip nhớ flash trong ổ nhớ USB cũng có cấu tạo giống như trong SSD, nhưng được nối trực tiếp với một đầu cắm USB để có thể cắm vào cổng USB của thiết bị sử dụng. Ổ nhớ USB rất thông dụng do kích thước nhỏ gọn và giá rẻ. Dung lượng phổ biến hiện nay là từ 2 GB tới 16 GB, nhưng cũng có những thiết bị có dung lượng tới 128 GB, như chiếc Lexar Echo MX.

Ổ loại lớn

Cơ bản về lưu trữ số, phần 2

Bên trong ổ gắn ngoài loại lớn có thể là một hoặc nhiều ổ cứng gắn trong

Ổ gắn ngoài loại lớn sử dụng ổ cứng gắn trong với kích thước 3,5 inch và có thể chia thành một ổ hoặc nhiều ổ. Do đó nó thường được để cố định, luôn kết nối với máy tính. Một vài thiết bị, như Pegasus R6, quá to để đem theo người.

Các chuẩn kết nối của ổ cắm ngoài

Nhìn chung ổ cắm ngoài có thể sử dụng bốn loại chuẩn kết nối sau đây:

1. USB

USB (Universal Serial Bus) là chuẩn kết nối được sử dụng thông dụng nhất trên máy tính và các thiết bị điện tử. Hiện tại có hai chuẩn USB chính: USB 2.0, với tốc độ tối đa là 480 Mbps USB 3.0, với tốc độ tối đa là 5 Gbps. USB 2.0 gần như xuất hiện trên tất cả các máy tính trong thập niên trước, trong khi chuẩn USB 3.0 mới trở nên thông dụng trong khoảng 3 năm trở lại đây.

USB 3.0 có thể tương thích ngược với USB 2.0, có nghĩa là ổ gắn ngoài dùng chuẩn USB 3.0 có thể hoạt động với một cổng USB 2.0 và ngược lại. Tuy nhiên để đạt hiệu năng cao nhất thì cả ổ gắn ngoài và máy tính đều cần hỗ trợ USB 3.0. Cách dễ nhất để nhận biết chuẩn USB là nhìn vào màu sắc của cổng kết nối: nếu cổng kết nối màu xanh nghĩa là nó dùng USB 3.0.

Cơ bản về lưu trữ số, phần 2

Hai cổng USB 3.0 (với màu xanh) và hai cổng FireWire 400 (dưới cùng) ở mặt sau của thùng máy

Trên máy chủ, cổng USB luôn có bề ngoài giống nhau (được gọi là cổng cái A), cho phép kết nối các thiết bị USB bất kỳ chuẩn nào. Trong khi đó có nhiều loại cổng USB trên thiết bị lưu trữ (được gọi là cổng cái B), và yêu cầu loại cáp kết nối cũng khác nhau.

Cáp kết nối USB nối với cả hai đầu. Đầu gắn vào máy chủ (gọi là đầu đực A) luôn giữ nguyên. Đầu còn lại (gọi là đầu đực B) phụ thuộc vào cổng USB trên thiết bị lưu trữ.

Những loại cáp USB thông dụng nhất bao gồm:

Cáp USB (đầu đực A, đầu đực B): Đây là loại cáp USB thông dụng, thường dùng cho máy in hoặc các ổ gắn ngoài loại lớn dùng kết nối USB 2.0.

Cáp Mini-USB (đầu đực A, đầu đực B loại mini): Đây là cáp cho chuẩn USB 2.0, dùng cho các thiết bị có cổng Mini-USB. Các ổ gắn ngoài và smartphone loại cũ thường dùng chuẩn này.

Cáp Micro-USB (đầu đực A, đầu đực B loại micro): Đây là loại cáp USB 2.0 thông dụng nhất hiện nay, được dùng trên phần lớn các smartphone và ổ gắn ngoài hiện tại.

Cáp USB 3.0 (đầu đực A, đầu đực B): Đây là loại cáp USB 3.0 kích thước thông thường, được sử dụng trên hầu hết các ổ gắn ngoài loại lớn hỗ trợ chuẩn USB 3.0. Cả hai đầu cáp đều có màu xanh, để phân biệt với cáp USB thông thường.

Cáp Micro-USB 3.0 (đầu đực A, đầu đực B loại micro): Đây là cáp được sử dụng cho các ổ gắn ngoài loại nhỏ hỗ trợ chuẩn USB 3.0. Thường thì chỉ có đầu đực A kết nối vào máy tính có màu xanh.

Cơ bản về lưu trữ số, phần 2

Ba loại cáp USB thông dụng. Từ trái qua: Cáp Micro-USB, cáp USB 2.0 chuẩn, và cáp Micro-USB 3.0 (một đầu của nó có màu xanh)

Các thiết bị lưu trữ dùng cổng USB đều được bán kèm cáp nối. Tuy nhiên nếu như bạn có lỡ làm mất cáp thì cũng không phải lo, vì cáp USB thường có thể sử dụng chung, và nếu mua mới thì cũng không đắt lắm, chỉ cần bạn để ý mua đúng loại cáp phù hợp với thiết bị của mình.

2. FireWire hay IEEE 1394

Đây là một chuẩn kết nối linh kiện thường dùng trên các máy tính cũ, đặc biệt là các máy Mac. Nó bao gồm hai chuẩn là FireWire 400 và FireWire 800, với tốc độ tương ứng là 400 Mbps và 800 Mbps. Chuẩn FireWire cho phép bạn nối tiếp nhiều thiết bị với nhau vào một máy tính chỉ có một cổng FireWire. FireWire 400 và FireWire 800 dùng các loại cáp riêng, và cũng có cáp kích cỡ thông thường và kích cỡ nhỏ. Tuy nhiên hiện nay chuẩn kết nối này đã lỗi thời và các máy tính mới không còn hỗ trợ chuẩn này.

3. eSATA hay external SATA

Như đã nói trong phần 1, SATA là giao diện chuẩn để kết nối ổ gắn trong với bo mạch chủ. eSATA cho phép giao diện này được sử dụng ở bên ngoài máy, giống như USB hay FireWire. eSATA đem lại tốc độ giống như SATA, và hiện tại đạt tối đa là 6 Gbps. Tuy có tốc độ cao, các máy tính ít khi hỗ trợ sẵn kết nối eSATA, thường thì bạn sẽ cần thêm một cạc kết nối. Chỉ có một loại cáp nối eSATA, với hai đầu giống hệt nhau.

4. Thunderbolt

Thunderbolt là kết nối mới nhất và nhanh nhất hiện tại. Nó được giới thiệu vào đầu năm 2011, và ban đầu chỉ có trên các máy Mac. Chuẩn Thunderbolt cho tốc độ tối đa lên tới 10 Gbps. Bên cạnh đó, chuẩn này cho phép tới 7 thiết bị nối tiếp nhau mà không làm ảnh hưởng tới tốc độ. Thunderbolt không chỉ dành cho các thiết bị lưu trữ; nó cũng có thể truyền tín hiệu âm thanh và hình ảnh, khiến cho nó trở thành chuẩn kết nối linh hoạt và mạnh nhất hiện nay.

Cơ bản về lưu trữ số, phần 2

Cáp FireWire 800 (bên trái) và cáp Thunderbolt

Tuy nhiên Thunderbolt không hoàn hảo. Hiện tại nó chủ yếu được dùng trên các máy Mac, và sử dụng chuẩn này cũng rất tốn kém. Một ổ hỗ trợ cổng Thunderbolt có thể đắt hơn ổ tương tự dùng USB 3.0 tới 150 USD. Một sợi cáp Thunerbolt cũng có giá tới 50 USD, và nhiều thiết bị Thunderbolt còn không được bán kèm cáp. Dù vậy có thể coi một sợi cáp cũng là một thiết bị với các thành phần điều khiển, cho phép bổ sung nhiều tính năng và đem lại sự ổn định hiệu năng. Hiện tại chỉ có một chuẩn cho cổng và cáp kết nối Thunderbolt.

B. Thiết bị lưu trữ kết nối qua mạng (NAS)

NAS (Network-attached Storage) là giải pháp nhằm khắc phục điểm yếu của ổ gắn ngoài: nó kết nối vào mạng và cho phép tất cả các thiết bị trong mạng truy nhập dung lượng lưu trữ. Đối với người dùng gia đình hoặc doanh nghiệp nhỏ, có hai loại NAS chính: máy chủ NAS và bộ định tuyến hỗ trợ NAS.

Máy chủ NAS

Máy chủ NAS bao gồm ổ cứng kết nối với thiết bị mạng, thay vì nối với máy tính. Một máy chủ NAS thường kết nối trực tiếp đến bộ định tuyến hoặc chuyển mạch qua cáp mạng. Nó cũng giống như một máy chủ với nhiều ổ cứng, nhưng thay vì điều khiển bằng chuột, bàn phím hay hiển thị qua màn hình, nó có thể được điều khiển thông qua giao diện Web. Để tận dụng tốt nhất máy chủ NAS, bạn cần kết nối nó với một mạng Gigabit có dây.

Cơ bản về lưu trữ số, phần 2

Một máy chủ NAS của Buffalo, thương hiệu khá nổi tiếng ở Việt Nam

Tùy thuộc vào thiết lập, một máy chủ NAS có thể có nhiều chức năng bên cạnh việc lưu trữ. Nó có thể là máy chủ giải trí, có khả năng truyền các nội dung số tới thiết bị trong mạng, lưu nội dung để có thể truy nhập từ xa qua mạng Internet, hoặc thậm chí có các ứng dụng dành riêng cho thiết bị. Hiện tại Synology là hãng cung cấp nhiều máy chủ NAS với gần như tất cả các tính năng bạn có thể trông chờ. Ở Việt Nam, các máy chủ NAS của hãng Buffalo (Nhật Bản) cũng khá thông dụng, với mức giá hợp lý.

Bộ định tuyến hỗ trợ NAS

Cơ bản về lưu trữ số, phần 2

Sử dụng bộ định tuyến có cổng USB cũng là một giải pháp NAS

Có nhiều bộ định tuyến hỗ trợ cổng USB, thậm chí có thể trang bị ổ cứng cùng router. Một vài loại được trang bị sẵn ổ cứng bao gồm Time Capsule của Apple hay My Net N900 Central của Western Digital. Thường thì các bộ định tuyến không dây cao cấp đều được trang bị một hoặc hai cổng USB để bạn gắn ổ cứng ngoài.

Các loại bộ định tuyến này thường hỗ trợ hai chức năng chính: chia sẻ dữ liệu và truyền nội dung số. Chúng cũng có tính năng NAS như một tùy chọn cho những người chỉ muốn sử dụng tính năng lưu trữ qua mạng. So với máy chủ NAS, phương pháp này có ít tính năng hơn và tốc độ chậm hơn nhiều. Tuy nhiên với nhu cầu sử dụng thông thường, một vài thiết bị, như Linksys EA4500, có tốc độ rất tốt.

Đảm bảo an toàn dữ liệu


Một trong các chức năng của thiết bị lưu trữ, có thể nói là chức năng quan trọng nhất, là bảo đảm các dữ liệu lưu trữ được an toàn, nhất là trong trường hợp có hỏng hóc về phần cứng. Hai phương pháp để bảo vệ an toàn dữ liệu gồm sao lưu và dư thừa dữ liệu (redundancy). Hai phương pháp này thực sự khác nhau, nên hiểu rõ về sự khác biệt này.

Bài liên quan:

Cơ bản về lưu trữ số (phần 1): Bộ nhớ RAM và ổ đĩa lưu trữ

Cơ bản về lưu trữ số (phần 2): ổ đĩa gắn ngoài và máy chủ NAS

Bài viết này là phần cuối trong series bài tư vấn cơ bản về lưu trữ số của trang công nghệ uy tín Cnet. Bạn có thể tìm đọc hai bài đầu tiên trong series bài tư vấn này ở hai link phía trên.

Dư thừa dữ liệu

Về cơ bản, dư thừa dữ liệu (sau đây tôi sẽ dùng thuật ngữ gốc tiếng Anh là redundancy) là sử dụng nhiều ổ gắn trong để lưu thông tin, hay nói cách khác, lưu cùng một thông tin ở nhiều nơi. Có nhiều cách để thực hiện phương pháp này, nhưng cách phổ biến nhất là sử dụng RAID (đã được nói tới ở phần 2 của loạt bài viết này). Bạn cần lưu ý rằng redundancy không phải là một giải pháp sao lưu dữ liệu, mà là một phương thức khôi phục dữ liệu khi có ổ gắn trong bị hỏng hóc. Hai cấu hình RAID thường được sử dụng nhất có tính năng redundancy là RAID 1 và RAID 5.

Tìm hiểu về lưu trữ số phần 3:  đảm bảo an toàn dữ liệu

Redundancy là phương pháp lưu cùng một thông tin ở nhiều ổ, để khi có sự cố thì có thể nhanh chóng lấy lại thông tin để tiếp tục hoạt động

RAID 1 yêu cầu ít nhất hai ổ cứng, và số lượng ổ cứng cần thiết để sử dụng trong RAID 1 nhiều gấp đôi so với số lượng thông thường. Hai ổ gắn trong này "phản chiếu" dữ liệu của nhau, tức là chứa những dữ liệu y như nhau. Do đó, chỉ có một nửa dung lượng có thể dùng để lưu dữ liệu, nửa dung lượng còn lại được sử dụng cho redundancy. RAID 5 yêu cầu ít nhất 3 ổ gắn trong, và dung lượng lưu trữ có thể sử dụng tương đương với tổng số ổ trừ đi 1. Ở phương thức này, nếu như một ổ bị hỏng thì các ổ khác sẽ giúp khôi phục lại dữ liệu để tránh bị mất.

Lưu ý: Mặc dù RAID thường sử dụng trong các thiết bị lưu trữ hỗ trợ nhiều ổ gắn trong, đối với thiết bị lưu trữ sử dụng cổng Thunderbolt, như Lacie Liggle Big Disk Thunderbolt, bạn có thể nối nhiều ổ đơn lại với nhau và tạo cấu hình RAID. Thiết bị lưu trữ cần có hai cổng Thunderbolt, và khi cấu hình RAID được tạo thì chúng chỉ có thể được sử dụng trên một máy tính. Tuy nhiên hầu như việc đầu tư cho một hệ thống lưu trữ nhiều ổ cứng hỗ trợ RAID vẫn tiết kiệm hơn.

Bạn có thể hình dung redundancy như hai cái túi nhựa bọc vào nhau, để mang đồ từ siêu thị về nhà. Nếu như có một túi bị hỏng trên đường về, thì các thức ăn bên trong sẽ không bị rơi ra ngoài.

Dù vậy phương pháp redundancy cũng bao gồm cả ưu và nhược điểm.

Ưu điểm: Ưu điểm rõ rệt nhất và lớn nhất của redundancy chính là khả năng bảo vệ an toàn dữ liệu thời gian thực trong trường hợp ổ hỏng hóc. Điều này có nghĩa là nếu như bạn đang làm việc trên một tập tin và một trong các ổ của cấu hình RAID hỏng, thiết bị lưu trữ vẫn có thể hoạt động tiếp (một số cấu hình RAID còn có thể hoạt động khi hỏng tới hai ổ). Thiết bị lưu trữ sẽ thông báo rằng một trong các ổ gắn trong đã hỏng, cho phép bạn sao lưu lại các thông tin quan trọng và thay ổ hỏng bằng ồ mới. Sau đó, trong một quá trình gọi là xây dựng lại RAID, ổ thay thế sẽ được ghi lại bằng những thông tin của ổ cũ để trở thành một phần của hệ thống RAID; và trong suốt quá trình đó thiết bị lưu trữ vẫn có thể hoạt động bình thường.

Nói ngắn gọn, redundancy là một cách bảo vệ dữ liệu tức thời. Và do các ổ gắn trong có thể hỏng bất cứ lúc nào, redundancy rất quan trọng đối với các thiết bị lưu trữ những thông tin quan trọng hay cung cấp các dịch vụ không thể bị gián đoạn.

Nhược điểm: Nhược điểm đầu tiên của redundancy là chi phí; bạn cần phải mua nhiều ổ gắn trong, và điều này có thể rất tốn kém. Ví dụ một hệ thống RAID 1 sẽ yêu cầu bạn chi tiền gấp đôi so với số lượng lưu trữ được.

Nhược điểm thứ hai là redundancy không thể bảo vệ dữ liệu khi có các tai họa như cháy nhà hay ngập lụt, hoặc khi chính thiết bị lưu trữ bị hỏng. Redundancy cũng không cho phép lưu nhiều phiên bản của cùng một dữ liệu. Chức năng này được bàn tới trong phần sau về sao lưu.

Và cuối cùng, thời gian xây dựng lại RAID có thể rất dài, đến vài ngày tùy thuộc vào lượng dữ liệu lưu trên thiết bị lưu trữ. Trong quá trình đó, RAID rất có thể gặp vấn đề, và nếu như ổ thứ hai cũng hỏng trước khi quá trình này hoàn thành, cả hệ thống RAID sẽ trục trặc và bạn sẽ mất hết dữ liệu. Trong thực tế, trong thời gian xây dựng lại RAID, một hệ thống lưu trữ RAID còn tiềm ẩn nguy hiểm hơn cả một thiết bị lưu trữ một ổ, do việc xây dựng lại RAID làm các ổ cứng đều phải hoạt động, đặc biệt khi hệ thống RAID vẫn tiếp tục hoạt động để cung cấp dữ liệu cho người dùng.

Không cần biết bạn thiết lập RAID như thế nào, hãy nhớ là nó giống như mua bảo hiểm vậy, là một thứ mà bạn cần để đề phòng trường hợp xấu xảy ra, và thực sự thì không muốn trường hợp đó xảy ra. Chức năng thay nóng một ổ chỉ nên dùng khi thực sự cần thiết, chứ không nên coi nó như một tính năng "thú vị". Bạn càng sử dụng tính năng này thường xuyên thì càng có nguy cơ mất sạch dữ liệu lưu trên cả thiết bị. Do đó, khi bạn có một thiết bị lưu trữ có khả năng RAID, nên lựa chọn dung lượng ổ cứng lớn từ đầu để tránh phải thay ổ giữa chừng để nâng dung lượng.

Cuối cùng, tôi muốn nhắc lại lần nữa: redundancy không phải là sao lưu dữ liệu. Và bạn không nên lưu tất cả dữ liệu của mình trên một thiết bị lưu trữ, kể cả thiết bị hỗ trợ redundancy.

Sao lưu

Người dùng bình thường có thể không cần redundancy, nhưng chắc chắn cần sao lưu, có nghĩa là giữ nhiều phiên bản sao chép của dữ liệu ở nhiều địa điểm để nếu có việc gì xảy ra thì có thể sử dụng một phiên bản này thay thế cho một phiên bản khác. Càng có nhiều bản sao lưu thì dữ liệu càng an toàn.

Lại lấy ví dụ về việc mua đồ. Sao lưu giống như sử dụng hai (hoặc nhiều hơn) túi đựng số lượng trứng như nhau. Nếu như các quả trứng trong một túi bị vỡ, bạn vẫn có còn trứng trong các túi khác để làm bữa sáng.

Việc sao lưu rất đơn giản, và thực tế là vẫn diễn ra nhiều hơn những gì bạn nghĩ. Ví dụ, gửi email kèm một văn bản Word tới người khác (hoặc tới chính bạn) cũng là một hình thức sao lưu, vì giờ đây có ít nhất hai phiên bản của tập tin đó, một trong máy tính của bạn và một trong máy người nhận. Nếu như bạn sử dụng dịch vụ email nền Web, như Gmail, thì một bản lưu cũng được trữ trên máy chủ của Google. Đối với các bức ảnh hay những dữ liệu nhẹ (xét về dung lượng) khác cũng tương tự.

Rõ ràng sử dụng email không thể là phương pháp sao lưu chính của bạn: nó rất mất thời gian. Bạn nên sử dụng một phương pháp hiệu quả hơn. Dưới đây là những phương pháp sao lưu thông dụng nhất, phù hợp với nhiều yêu cầu.

Sao lưu trực tuyến (hay còn gọi là sao lưu đám mây)

Một dịch vụ sao lưu trực tuyến cho phép bạn lưu trữ dữ liệu bằng cách tải lên mạng thông qua Internet tới một hoặc nhiều máy tính. Thông thường thì bạn không cần biết máy tính lưu trữ dữ liệu ở đâu. Thực tế, dữ liệu của bạn thường được lưu trữ trên nhiều máy chủ ở nhiều trung tâm dữ liệu khác nhau trên thế giới.

Có nhiều dịch vụ sao lưu trực tuyến, như Dropbox, Google Drive hay SkyDrive, và tất cả đều tự động đồng bộ nội dung ở máy tính với máy chủ theo thời gian thực, hoặc dựa trên một lịch mà bạn đặt ra từ trước. Hầu hết các dịch vụ này đều cung cấp cho bạn dung lượng lưu trữ miễn phí là 5 GB, và bạn có thể mua thêm dung lượng nếu cần. Google cũng cung cấp dịch vụ Google Docs, dịch vụ thay thế cho Microsoft Office, cho phép lưu tất cả văn bản lên đám mây (các máy chủ) của Google.

Tìm hiểu về lưu trữ số phần 3:  đảm bảo an toàn dữ liệu

Google Drive là dịch vụ sao lưu rất tốt cho người dùng Gmail

Ưu điểm của lưu trữ trực tuyến: Phương pháp này rất tiện lợi và giúp bạn tránh mất dữ liệu kể cả khi có tai nạn gì đó. Bạn cũng không cần mua thêm dụng cụ gì. Thông thường bạn có thể lấy lại dữ liệu từ bất cứ đâu, bất cứ máy tính nào, miễn là có kết nối Internet. Phương pháp này phù hợp với lượng dữ liệu không lớn (dưỡi 5 GB) và khi có Internet tốc độc ao.

Nhược điểm của lưu trữ trực tuyến: Phương pháp này phụ thuộc rất lớn vào kết nối Internet, đặc biệt là tốc độ tải lên. Ví dụ bạn có một kết nối với tốc độ tải lên là 12 Mbps, như vậy sẽ cần khoảng 1 giờ để tải lên 5 GB dữ liệu. Hầu hết các dịch vụ Internet phổ thông hiện nay tại Việt Nam có tốc độ tải lên từ 0,5 Mbps tới 1 Mbps. Tương tự, quá trình tải dữ liệu về cũng phụ thuộc vào tốc độ và độ ổn định của mạng, và có thể sẽ mất rất nhiều thời gian. Lưu trữ trực tuyến cũng đồng nghĩa bạn phải phụ thuộc vào một bên thứ ba về sự an toàn và riêng tư của dữ liệu cá nhân, và những dịch vụ trả phí đôi khi cũng khá tốn kém.

Do vậy, nếu như bạn có rất nhiều ảnh, bài hát, và đặc biệt là phim và muốn lưu trữ an toàn, bạn nên tìm kiếm một phương pháp sao lưu khác.

Sao lưu cục bộ hay sao lưu trực tiếp

Với phương pháp sao lưu này dữ liệu được sao lưu lên các ổ lưu trữ gắn ngoài, như ổ cứng gắn ngoài hay ổ nhớ USB. Phương pháp này cho phép sử dụng thiết bị lưu trữ với dung lượng lớn hơn và rẻ hơn. Như đã đề cập ở phần hai của loạt bài viết, có hai loại thiết bị lưu trữ gắn ngoài chính: ổ loại nhỏ và ổ loại lớn.

Tìm hiểu về lưu trữ số phần 3:  đảm bảo an toàn dữ liệu

Một vài thiết bị sao lưu trực tiếp

Ổ loại nhỏ thường có kích thước nhỏ và được cấp điện qua cáp nối với máy tính, thông thường là cáp USB hoặc Thunderbolt. Những thiết bị này lưu trữ dựa trên ổ gắn trong với kích thước 2,5 inch. Chúng có giá thấp nhưng thường là loại được thiết lập một ổ, và dung lượng dưới 2 TB. Dù vậy, với dung lượng của chúng thì đây cũng là những lựa chọn sao lưu rất tốt và đặc biệt là thuận tiện cho những người muốn đem dữ liệu theo. Nhiều loại ổ gắn ngoài loại nhỏ được trang bị phần mềm sao lưu có thể tự chạy mỗi khi bạn cắm ổ vào máy tính, giúp thuận tiện hơn cho việc sao lưu. Cá nhân tôi cho rằng việc sử dụng một hoặc hai ổ loại nhỏ là cách tốt nhất để sao lưu dữ liệu. Nếu như bạn chưa bao giờ sao lưu dữ liệu của mình, hãy làm ngay khi có thể.

Ổ loại lớn thông thường lưu trữ vào các ổ gắn trong kích thước 3,5 inch. Chúng có thể có thiết lập gồm một ổ hoặc nhiều ổ, và loại nhiều ổ có thể sử dụng ổ gắn trong 2,5 inch để nhỏ gọn hơn. Tất cả các loại ổ loại lớn đều cần một bộ cấp điện thoại, tuy nhiên có khả năng cung cấp dung lượng nhiều hơn ổ loại nhỏ, lên tới 4 TB với thiết lập một ổ. Các ổ loại lớn đôi khi có cả tính năng redundancy, đem lại giải pháp lý tưởng cho những người muốn có cả tính năng sao lưu và redundancy hoặc cần phải giao lưu một lượng rất lớn dữ liệu. Một vài loại thiết bị còn có khả năng chống chọi lại tai nạn như cháy hoặc ngập nước, ví dụ như thiết bị Solo Fireproof Waterproof External Hard Drive của hãng IoSafe.

Ưu điểm của việc sao lưu cục bộ là tốc độ cao, đặc biệt là khi sử dụng các thiết bị kết nối qua cổng Thunderbolt, và có thể xử lý lượng lớn dữ liệu. Tùy thuộc vào phần mềm sao lưu, nó có thể lưu cả các phiên bản khác nhau của tập tin, và trong nhiều trường hợp việc lưu dữ liệu trên một thiết bị độc lập, bên cạnh bản chính của nó, giúp cho bạn có thể trở về phiên bản trước đó ngay khi có vấn đề với tập tin đang làm việc.

Nhược điểm của phương pháp này là bạn chỉ có thể sao lưu một máy tính hoặc thiết bị trong một thời điểm, và bạn phải kết nối ổ lưu trữ vào máy tính trước khi thực hiện việc sao lưu. Mặc dù việc này nghe rất đơn giản nhưng cũng có nhiều người lại quên mất. Sao lưu cục bộ cũng làm cho không gian làm việc của bạn bừa bộn hơn với nhiều thiết bị.

Nếu như bạn có nhiều máy tính ở nhà và muốn quản lý các bản sao lưu chỉ tại một máy, bạn có thể nghĩ đến phương pháp sao lưu qua mạng.

Sao lưu qua mạng

Giống như tên gọi của nó, phương pháp này cho phép bạn sử dụng một máy tính làm nơi sao lưu cho tất cả các máy tính và thiết bị khác. Cách tốt nhất để thực hiện điều này là sử dụng máy chủ NAS. Sao lưu là một trong số rất nhiều tính năng của các máy chủ NAS, và cũng có nhiều loại sao lưu bạn có thể thực hiện.

Tuy vậy, một số máy chủ NAS, ví dụ như Time Capsule của Apple, được thiết kế chỉ dành cho mục đích sao lưu. Những máy chủ NAS này lưu trữ các bản sao của dữ liệu ở nhiều máy tính trong mạng. Đối với Time Capsule, bạn có thể sử dụng ứng dụng Time Machine để lưu trữ dữ liệu của nhiều máy Mac trên Time Capsule.

Những máy chủ NAS cao cấp còn cung cấp phương pháp sao lưu đám mây, để bạn có thể sao lưu nhiều máy tính ở xa thông qua Internet. Về cơ bản thì phương thức hoạt động của nó giống như những dịch vụ lưu trữ trực tuyến đã được nhắc tới ở trên, chỉ khác là bạn có toàn quyền điều khiển máy chủ của riêng bạn.

Tìm hiểu về lưu trữ số phần 3:  đảm bảo an toàn dữ liệu

Với khả năng hỗ trợ hai ổ cứng và các kết nối USB, máy chủ NAS Synology DS213air có cả tính năng sao lưu lẫn redundancy

Sao lưu qua mạng có nhiều ưu điểm, do nó khá giống với hình thức sao lưu trực tuyến, trừ việc bạn luôn cần kết nối Internet. Nó cũng giống với hình thức sao lưu cục bộ, ngoại trừ việc phải cắm thiết bị vào mỗi lần muốn thực hiện sao lưu. Một khi thiết bị đã được cấu hình, nó sẽ tự chạy và bạn không cần phải làm gì nữa. Thêm nữa, nhiều máy tính có thể cùng sao lưu một lúc, và có thể nói là không có một giới hạn nào cho mức dung lượng lưu trữ. Một máy chủ NAS có thể để gọn ở một góc, không gây bừa bộn.

Hình thức này cũng có các nhược điểm như thường tốn kém và phức tạp hơn so với hai hình thức sao lưu trên. Đối với hầu hết người dùng tại gia thì phương pháp này cũng hơi thừa thãi. Thêm nữa, so với việc sao lưu trực tiếp, đặc biệt là với thiết bị dùng kết nối Thunderbolt, việc sao lưu qua mạng thường chậm hơn, do nó bị giới hạn bởi tốc độ của mạng cục bộ, hiện nay tối đa là 1 Gbps.

Phương pháp tốt nhất

Phương pháp tốt nhất để đảm bảo an toàn cho dữ liệu là sử dụng cả redundancy và sao lưu nếu có thể. Tất cả các thiết bị có thể thiết lập dùng nhiều ổ sẽ cung cấp cho bạn tính năng redundancy. Tuy nhiên nếu như phải chọn giữa một trong hai, thì nên nhớ là việc sao lưu thường quan trọng hơn, nhất là đối với người dùng tại gia.

Khi xét tới sao lưu, hãy sử dụng bất kỳ phương pháp nào mà bạn có thể. Ví dụ, nếu như bạn sử dụng một chiếc smartphone, hãy đảm bảo là bạn thường xuyên đồng bộ hóa dữ liệu với máy tính hoặc với một máy chủ trực tuyến, hoặc tạo thói quen email những tài liệu quan trọng của bạn tới chính địa chỉ của bạn hay một người bạn thân.

Nên nhớ rằng dù bạn có rất nhiều dữ liệu, thì lượng dữ liệu đặc biệt quan trọng và không thể thay thế thường không nhiều. Các nội dung số trả tiền như nhạc hay phim hoàn toàn có thể tải lại hoặc thậm chí mua lại, nên bạn không cần phải sao lưu chúng nếu như không có đủ dung lượng lưu trữ. Tuy nhiên, nếu như bạn đang thực hiện một dự án quan trọng, hoặc lưu trữ những thông tin tài chính, thì bạn nên sao lưu hàng ngày hoặc thậm chí sau mỗi lần sửa đổi.

Và quan trọng nhất là đừng bao giờ chỉ lưu một bản của dữ liệu quan trọng, trên đúng một thiết bị lưu trữ.

Ổ lưu trữ SSD



Tuy được nhắm đến để thay thế ổ cứng truyền thống trong nhiều ứng dụng, cách SSD lưu trữ và truy cập dữ liệu rất khác so với ổ cứng. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giải thích cách làm việc của chúng một cách dễ hiểu nhất, cũng như giải thích một số câu hỏi liên quan đến SSD.

Cơ bản về lưu trữ số, phần 4: ổ lưu trữ SSD

Bảng mạch của một SSD. Bộ phận duy nhất giống với một ổ cứng thông thường là giao diện SATA

Để hiểu cách hoạt động của SSD, hãy bắt đầu với hai bộ phận quan trọng nhất: chip điều khiển (controller) và bộ nhớ NAND flash. Hai bộ phận này, cùng một vài bộ phận khác, được đặt trên cùng một bảng mạch gọi là mạch in (PCB), và sau đó được đặt trong vỏ để tạo thành ổ SSD.

Chip điều khiển

Trong một SSD, chip điều khiển là một vi xử lý được tích hợp, điều khiển giao tiếp giữa bộ nhớ flash và máy chủ (thường là máy tính). Chip điều khiển sẽ xử lý các lệnh được tạo bởi firmware (một hệ điều hành dành riêng) của SSD để đáp ứng các nhu cầu dữ liệu từ máy chủ. Chip điều khiển quyết định hiệu năng của SSD, cũng như các tính năng nó có thể cung cấp.

Một số tính năng phổ biến được thực hiện bởi chip điều khiển bao gồm ghi, đọc, xóa, kiểm tra lỗi, mã hóa,garbage collectionwear-levelingRAISE và over-provisioning. (những khái niệm này sẽ được giải thích ở phần sau) .

Không nên nhầm lẫn giữa chip điều khiển của SSD, với chip điều khiển giao diện I/O (vào/ra), như Serial ATA (SATA), là chip quyết định giao tiếp vật lý giữa ổ lưu trữ (SSD hay ổ cứng) với máy chủ. Hầu hết các SSD thông thường hỗ trợ chip điều khiển SATA, cho phép sử dụng các chuẩn kết nối như SATA (150 Mbps), SATA 2 (3 Gpbs), và SATA 3 (6 Gbps). Bạn có thể thấy ngay giao diện kết nối của SSD khi nhìn bề ngoài, còn chip điều khiển hoạt động của SSD được đặt bên trong vỏ và người dùng không thể nhìn thấy được.

Bộ nhớ NAND flash

Tất cả những SSD tiêu chuẩn hiện tại đều sử dụng bộ nhớ NAND flash, là mạch tích hợp có chức năng lưu thông tin. Các ổ SSD dành cho doanh nghiệp thường sử dụng loại NAND SLC (single-level-cell, ô nhớ một cấp), trong khi ổ SSD cho người dùng thông thường sử dụng các NAND MLC (nhiều cấp). Sự khác biệt giữa hai loại NAND này là số bit nhớ được lưu trên một ô nhớ (cell). NAND MLC có thể lưu 2 hoặc 3 bit nhớ trên một ô, còn NAND SLC chỉ lưu 1 bit nhớ trên một ô. Nhờ vậy, SSD dùng NAND MLC có thể lưu nhiều thông tin hơn với cùng số ô nhớ; bù lại SSD dùng NAND SLC có hiệu năng và tuổi thọ cao hơn, do đó cũng đắt hơn nhiều.

Cơ bản về lưu trữ số, phần 4: ổ lưu trữ SSD

Sự khác nhau giữa NAND SLC và NAND MLC là số bit nhớ lưu trên một cell. Ảnh: Anandtech

Thay vì việc ghi vào phiến đĩa từ như trên ổ cứng, việc ghi dữ liệu vào một SSD xảy ra khi chip điều khiển ghi thông tin vào một ô nhớ. Nói một cách đơn giản thì một ô nhớ có hai trạng thái là bật (1) và tắt (0), và được điều khiển bởi điện áp, như vậy nó có thể lưu thông tin dưới dạng nhị phân. Trong thực tế thì việc ghi thông tin lên SSD phức tạp hơn nhiều. Tuy vậy, việc đọc từ SSD khá đơn giản.

Ô nhớ NAND flash có một số đặc điểm thú vị. Thứ nhất, số lần có thể ghi dữ liệu lên chúng là một số giới hạn, và sau đó chúng trở nên thiếu ổn định. Con số này được gọi là số lần ghi, hay số vòng ghi/xóa (P/E cycles). Để kéo dài thời gian này, chip điều khiển sử dụng một kỹ thuật gọi là wear-leveling (cân bằng hao mòn), nhằm đảm bảo ghi dữ liệu lên tất cả các ô nhớ trong ổ, trước khi ghi lại lên một ô nhớ bất kỳ.

Đặc điểm thứ hai là, khác với ổ cứng, bộ nhớ NAND flash không thể ghi đè dữ liệu. Điều đó có nghĩa là nếu muốn ghi vào một ô đã có dữ liệu, trước tiên chip điều khiển cần xóa dữ liệu đã ghi trong ô đó.

Tính năng thứ ba là sự thiếu hiệu quả khi xóa dữ liệu. Ở SSD, các ô nhớ được tập hợp lại thành các trang nhớ (page - thường có dung lượng là 4 kB), và các trang sau đó lại được tập hợp thành các khối (block - thường có dung lượng 512 kB, hay 128 page). Bạn có thể ghi theo từng trang, nhưng lại chỉ có thể xóa theo từng khối.

Cơ bản về lưu trữ số, phần 4: ổ lưu trữ SSD

Minh họa các page và block trên bộ nhớ NAND flash. Ảnh: Anandtech

Khi người dùng xóa một dữ liệu trên SSD bằng lệnh trong hệ điều hành (và kể cả khi đã chọn xóa trong thùng rác) thì thực tế vẫn chưa có quá trình xóa. Hệ điều hành (như Windows) sẽ sử dụng một lệnh có tên là TRIM, đánh dấu thông tin bạn muốn xóa là "không hợp lệ", theo từng trang một. Việc xóa dữ liệu thực sự chỉ diễn ra khi người dùng muốn ghi thêm dữ liệu vào ổ. Như vậy, trừ khi bạn sử dụng một ổ SSD hoàn toàn mới, sẽ không có quá trình ghi nếu như việc xóa dữ liệu chưa được thực hiện. Như vậy khi ghi dữ liệu mới, chip điều khiển cũng đồng thời xóa đi các dữ liệu muốn xóa, gọi là quá trình "gom dữ liệu bỏ đi" (garbage collection).

Wear-leveling và garbage colletion khiến cho dữ liệu đã được ghi vào một vị trí của SSD có thể bị xóa đi và ghi lại vào một vị trí khác, được gọi là hiện tượng write amplification.

Write amplification (WA)                             

Write amplification là để chỉ việc dữ liệu vật lý được ghi trên SSD thực chất lớn hơn so với lượng dữ liệu luận lý (logic) muốn ghi. Nói cách khác, SSD ghi vào nhiều hơn so với những gì mà máy chủ yêu cầu. Với các tính năng để tối ưu hiệu năng, đôi khi việc ghi dữ liệu không đơn giản là ghi một lần, mà bao gồm nhiều quá trình ghi – xóa. Hiện tượng WA làm tăng số vòng ghi/xóa của SSD.

Tuy vậy, write amplification là hiện tượng bắt buộc phải có khi thực hiện các tính năng tối ưu SSD, giúp tối ưu hiệu năng và kéo dài tuổi thọ cho SSD. Vấn đề là cần phải cân bằng giữa lợi ích và nhược điểm của hiện tượng này. Như đã nói, hiện tượng này chủ yếu xảy ra do quá trình wear-levelling và garbage collection.

Garbage colletion

Đây là nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng write amplification. Trong một khối bộ nhớ, có thể tồn tại đồng thời một số trang đang ở trong trạng thái chờ xóa, cùng với một số trang lưu dữ liệu thông thường. Trước khi muốn xóa hết cả khối nhớ đó, đầu tiên chip điều khiển cần chuyển các trang lưu dữ liệu sang một khối khác.

Bạn có thể nghĩ về điều này giống như khi quản lý một căn nhà cho thuê. Khi người thuê cũ chuyển đi, bạn cần phải dọn nhà trước khi cho người khác thuê. Giả sử người thuê cũ vẫn còn để lại một số vật dụng trong một căn phòng, bạn không thể chỉ dọn phần còn lại, cứ cho người mới chuyển đến ở, và sau đó mới dọn hết chỗ đồ kia đi; dù rằng có thể người thuê mới chưa cần dùng tới căn phòng đang có đồ. Bạn cần phải chuyển hết những đồ còn lại sang một căn hộ khác vẫn còn chỗ, và dọn sạch sẽ căn phòng kia trước khi người mới chuyển đến.

Quá trình này xảy ra do bộ nhớ NAND flash không thể ghi đè dữ liệu lên ô nhớ - nó cần phải xóa dữ liệu cũ trước khi ghi dữ liệu mới; đồng thời, dữ liệu có thể ghi theo từng trang, nhưng lại phải xóa theo từng khối, là đơn vị lớn hơn trang.

Wear-leveling

Đây là kỹ thuật sắp xếp dữ liệu để việc xóa và ghi dữ liệu được phân bố đều trên toàn bộ SSD, nhằm đảm bảo không có một khối dữ liệu nào bị ghi quá số lần quy định do ghi không đều. Một số thuật toán còn tạm thời chuyển các dữ liệu ít thay đổi (như các tập tin cần thiết cho hệ điều hành hay các chương trình) vào các vùng đã ghi nhiều, để sử dụng các vùng ghi ít hơn cho các dữ liệu thường xuyên thay đổi. Điều này giúp cho tất cả các khối dữ liệu trên SSD đạt số vòng ghi xóa tương đương nhau, giúp kéo dài tuổi thọ của ổ.

Write amplification diễn ra trên tất cả các SSD, và nó cần có dung lượng trống, như một bộ nhớ đệm để có thể hoạt động. Do vậy bạn cần phải để lại một số chỗ trống, khoảng 20% dung lượng ổ, để tính năng này có thể hoạt động. Tuy nhiên điều này có thể không cần thiết nếu như ổ có sẵn một phần dung lượng trống cho các hoạt động trên, gọi là over-provisioning.

Over-provisioning (OP)

OP có nghĩa là một phần dung lượng được dành riêng cho hoạt động của chip điều khiển, và người dùng không thể sử dụng phần dung lượng này. Chip điều khiển có thể dùng phần dung lượng này cho các hoạt động như wear-leveling, garbage collection hay các tính năng tối ưu hiệu năng khác.

Lại trở về với ví dụ về việc cho thuê nhà. OP giống như bạn dành riêng một căn phòng trong khu nhà để bỏ các đồ thừa vào đó, thay vì phải sử dụng một căn hộ có thể cho thuê.

Thông thường, phần dung lượng được dành ra rơi vào khoảng 7 đến 28% tổng dung lượng ổ. Do vậy, các ổ SSD có tính năng OP thường được liệt kê dung lượng là số chẵn, như 120 GB, 240 GB hay 480 GB, thay vì dung lượng thông thường như 128 GB, 256 GB hay 512 GB. Một số SSD, như ổ Samsung 840 Pro, cho phép người dùng quản lý dung lượng. Các ổ khác tự động sử dụng phần dung lượng trống cho tính năng này.

Về lý thuyết, OP sẽ giúp tăng hiệu năng của SSD (do chip điều khiển đã có riêng một vùng, chứ không phải tìm kiếm chỗ trống trên ổ để làm bộ nhớ đệm). Tuy nhiên khi kiểm nghiệm thực tế, chúng tôi thấy không hẳn lúc nào cũng như vậy.

Một số thuật ngữ thông dụng khác về SSD

TRIM: Lệnh TRIM được đưa ra để cho phép hệ điều hành thông báo với chip điều khiển SSD về các trang lưu dữ liệu không cần thiết (các dữ liệu đã được đánh dấu là xóa hay không hợp lệ, do người dùng đưa ra lệnh xóa). Sau đó, các trang đã được đánh dấu sẽ bị xóa đi, trả lại dung lượng trống cho ổ đúng như con số mà hệ điều hành thông báo. Với SSD thì số ô trống nhiều hơn cũng tương đương với hiệu năng cao hơn.

RAISE: Đây là tính năng chỉ có trên các ổ dùng chip điều khiển SandForce. RAISE giúp giảm tỉ lệ hư hỏng của đĩa và cung cấp tính năng mã hóa AES. Trong thực tế, RAISE phù hợp hơn với môi trường doanh nghiệp thay vì các ổ cho người dùng phổ thông.

IOPS (Input/Output Operations Per Second – Số lệnh vào/ra trong một giây): Đây là đơn vị tính cho các truy cập ngẫu nhiên. Truy cập ngẫu nhiên là khả năng truy cập vào dữ liệu ở một vị trí bất kỳ, trong một khoảng thời gian rất ngắn. Truy cập ngẫu nhiên thường được dùng đến khi truy cập các dữ liệu có kích thước rất nhỏ và đây là điểm mạnh của SSD.

Thời gian truy cập ngẫu nhiên, cũng như độ trễ của nó, quyết định tốc độ máy chủ có thể truy cập dữ liệu, và ảnh hưởng đến thời gian khởi động máy, bật ứng dụng, và hiệu năng nói chung. Truy cập ngẫu nhiên trên ổ cứng thông thường là khá chậm, vào khoảng 75 đến 250 IOPS. Trong khi đó tốc độ truy cập ngẫu nhiên trên SSD lại rất nhanh, vào khoảng 20.000 đến 100.000 IOPS hoặc thậm chí cao hơn.

Hỏi đáp:

Hỏi: Ổ cứng của laptop tôi hiện tại có dung lượng 1 TB. Tôi có thể dùng phần mềm chuyển dữ liệu về một ổ SSD có dung lượng 256 GB được không?

Đáp: Được, miễn là lượng dữ liệu mà bạn đang có ít hơn 256 GB. Lý tưởng nhất thì bạn nên giảm dung lượng xuống còn khoảng 200 GB, để SSD có dung lượng thực hiện các tác vụ tối ưu hiệu năng, như đã nói ở trên. Cần lưu ý rằng một số phần mềm chuyển dữ liệu không hỗ trợ chuyển từ một ổ có dung lượng lớn tới ổ có dung lượng nhỏ hơn. Dù vậy, những phần mềm tốt, như Acronis True Image, cho phép làm điều này.

Hỏi: Tôi có ổ Crucial M4 512 GB, được sử dụng làm ổ chính ở máy Macbook Pro, để lưu hệ điều hành, ứng dụng, và các tập tin liên quan. Ổ phụ là ổ theo máy có dung lượng 500 GB, để lưu tài liệu, thư viện, ảnh và phim. Liệu tôi có phải lo SSD sẽ hết tuổi thọ của nó trong khoảng 5 năm nữa không?

Đáp: Với các loại dữ liệu của bạn, và giả sử cường độ sử dụng của bạn vào loại thông thường, kể cả khi bạn để tất cả dữ liệu lên SSD (nhưng đừng dùng hết dung lượng) thì nó cũng không dùng hết số vòng ghi/xóa trong vòng 20 năm nữa.

Hỏi: Tôi được biết rằng những ứng dụng chia sẻ file, như BitTorrent, có thể làm hỏng SSD. Điều này có đúng không?

Đáp: Chúng sẽ không làm hỏng ổ của bạn theo kiểu vật lý, nhưng do tải xuống cũng là một quá trình ghi vào ổ, nó cũng sẽ làm tăng số vòng ghi/xóa của ổ, vậy nên hãy dùng cẩn thận!

Hỏi: Laptop của chúng tôi có cổng SATA 3 Gbps. Liệu khi chuyển sang dùng SSD tôi có nhận được hiệu năng hơn hẳn không, hay một ổ Seagate hybrid cũng là đủ rồi?

Đáp: Chắc chắn bạn sẽ thấy hiệu năng được cải thiện rõ rệt nếu đổi từ ổ cứng sang dùng SSD. Ổ hybrid cũng sẽ giúp tăng hiệu năng, nhưng không được nhiều như SSD.

Hỏi: Sử dụng SSD cho các giải pháp lưu trữ mạng, ví dụ như cắm vào một router qua cổng USB, có ổn không?

Đáp: Không, hoàn toàn không ổn chút nào. Tốc độ mạng tối đa cũng chỉ ở mức Gigabit Ethernet, tức là 1000 Mbps hay khoảng 130 MBps. Do vậy sử dụng SSD trong trường hợp này là quá phí phạm. Trường hợp duy nhất bạn nên sử dụng SSD cho giải pháp mạng là khi bạn cần dùng một máy chủ dữ liệu cho Web (như SQL). Khi đó SSD có thể giúp tăng tốc độ của Website.

Hỏi: Nếu tôi sử dụng SSD của hãng thứ ba cho máy Mac OS 10.8 thì có cần phải làm gì đặc biệt không? Gần đây tôi có lắp một chiếc Samsung 840, và một số hướng dẫn cho biết tôi cần phải điều chỉnh để có thể bật TRIM, và một số hướng dẫn cho biết không bật cũng chẳng sao. Nếu như cần thì có thể chỉ giúp tôi phải điều chỉnh thế nào không?

Đáp: Bạn nên bật TRIM, vì nó là tính năng rất quan trọng giúp SSD hoạt động hiệu quả. Các máy Mac thường không hỗ trợ TRIM khi lắp đặt các ổ SSD của hãng khác, nhưng bạn có thể sử dụng công cụ Trim Enable để bật tính năng này.

Hỏi: Gần đây tôi đã lắp thêm SSD vào máy tính dựng từ năm 2008. Hiệu năng tăng lên rất đáng kể, nhưng tốc độ SATA trên bo mạch chủ của tôi chỉ đạt mức 3 Gb/s. Nếu tôi dùng bo mạch chủ có SATA 6 Gb/s thì có cải thiện được nhiều không? Và liệu có đáng lắp một ổ SSD vào máy PS3 không?

Đáp: Khi nâng cấp lên SATA 6 GB/s, hiệu năng có cải thiện nhưng không rõ ràng như khi bạn chuyển từ ổ cứng lên SSD. Không cần thiết phải mua một bo mạch chủ mới, trừ khi bạn cũng muốn những tính năng mới như hỗ trợ CPU, RAM nhanh hơn hay USB 3.0. Và cũng đáng để lắp SSD vào máy PS3, vì các trò chơi sẽ mở nhanh hơn rất nhiều.

Comments