Lưu trữ‎ > ‎CMKT‎ > ‎

NCW - Tác chiến mạng trung tâm

THỬ NHẬN DẠNG TÁC CHIẾN MẠNG TRUNG TÂM

 

Thời gian qua, người ta đã tốn khá nhiều giấy mực để bàn về một dạng thức tác chiến đang nổi lên - tác chiến lấy mạng làm trung tâm, hay gọi vắn tắt là tác chiến mạng trung tâm, theo cách gọi của giới quân sự Mỹ. Dạng thức tác chiến này được Pháp gọi là Tác chiến lấy thông tin làm trung tâm. Còn trong khối NATO, người ta chỉ dùng thuật ngữ Năng lực [chiến đấu] có được nhờ mạng. Mặc dù còn không ít những khác biệt về cách gọi tên, và do đó về cách quan niệm, song dường như sự vật mới nảy đang phản ánh một niềm tin cho rằng, ''nghệ thuật chiến tranh đang trải qua một quá trình chuyển biến đầy kịch tính, mà trong đó, sức mạnh quân sự dựa trên ưu thế cơ giới đang được được chuyển dần sang dựa trên ưu thế thông tin. Trong bối cảnh đó, ta cũng nên xem xét một số phát triển về vũ khí trang bị và cách đánh đang tạo ra, nói đúng hơn, sản phẩm đặc thù của tác chiến mạng trung tâm.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cuộc cách mạng công nghệ, mà công nghệ thông tin là công nghệ bản lề, đang đem lại những biến đổi to lớn trong kinh tế xã hội cũng như trong tiến hành đấu tranh vũ trang. Từ những năm 70, những phát triển của công nghệ thông tin đã dẫn đến sự ra đời của một thế hệ vũ khí trang bị mới về chất, được định danh là vũ khí công nghệ cao. Đó là những vũ khí trang bị 4 thành phần, trong đó thành phần hay bộ phận hợp thành mới đem lại bước biến đổi về chất cho vũ khí chính là thành phần điều khiển theo phương trình, hay cái gọi là phần mềm. Đồng thời, công nghệ thông tin cũng góp phần tăng cường quá trình chuyên hóa vũ khí trang bị. Bên cạnh ba loại hình vũ khí trang bị đã có là bom đạn, phương tiện mang phóng (máy bay, xe cộ, hạm tàu nổi và ngầm,... ) và phương tiện bảo đảm chiến đấu (mà trong đó nổi bật nhất là các thiết bị cảm biến hay xenxơ phát hiện và nhận dạng mục tiêu) từ những năm 70 đã xuất hiện một loại hình phương tiện đấu tranh vũ trang mới - hệ thống tự động hóa chỉ huy. Trong ngôn ngữ quân sự, hệ tự động hóa chỉ huy được gọi là hệ thống C3I, là chữ viết tắt của cụm từ Command - chỉ huy [con người], Control - điều khiển [máy móc], Communication - truyền tin[1] và Inteligence - nghĩa là tình báo, để chỉ các chức năng của hệ thống trang bị đặc thù này. (Chữ tắt tiếng Nga gọi là hệ ASU- Avtomaticheskaja Sistema Upravlenii, nghĩa là hệ thống tự động hóa chỉ huy và điều khiển). Sự ra đời của hệ C3I nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao nhịp độ và năng lực chỉ huy, khi mà tốc độ, uy lực và độ chính xác của các vũ khí trang bị mà nó điều khiển, cũng như nó phải ứng phó, đã vượt ra ngoài khả năng tác nghiệp của con người. Mặt khác, sự ra đời của hệ C3I cũng gắn với sự phát triển của công nghệ thông tin, cái đã tạo ra vũ khí trang bị công nghệ cao mà nó điều khiển.

Theo biện chứng của phát triển, vũ khí trang bị công nghệ cao tất yếu dẫn tới sự xuất hiện của một dạng thức tác chiến mới - tác chiến công nghệ cao. Đến lượt nó, tác chiến công nghệ cao trở thành hạt nhân của một dạng thức chiến tranh mới - chiến tranh công nghệ cao, với những Học thuyết chiến tranh đặc thù trong thời đại thông tin. Từ những năm 80, trong quân đội các nước hàng đầu, hệ C3I đã được ưu tiên phát triển hàng đầu. Cũng từ thời gian này, sự phát triển của bản thân hệ thống tự động hóa chỉ huy và điều khiển C3I đã bắt đầu có tác động mạnh mẽ, và ngày càng mang tính chi phối tới sự phát triển của các vũ khí trang bị khác, cũng như tới sự phát chiến của tác chiến và chiến tranh.

Tới cuối những năm 90, thuật ngữ viết tắt C3I được thay thế dần bằng thuật ngữ C4ISR (Command, Control, Communications, Computers, Intelligence, Surveillance and Reconnaissance). Điều đó cho thấy sự phát triển mang tính nhảy vọt trong lĩnh vực tự động hóa hoạt động chỉ huy và điều hành chiến tranh. Hiểu một cách đơn giản, hệ C4ISR chính là hệ C3I mở rộng, trong đó máy tính, nói đúng hơn mạng máy tính hay mạng công nghệ thông tin đã thực sự trở thành một bộ phận hợp thành của hệ thống tự động hóa chỉ huy quân đội và điều khiển vũ khí. Ngoài ra, thành phần tình báo I được mở rộng thành ba bộ phận chức năng có tầm quan trọng không thua kém nhau - Tình báo [dài hạn], giám sát [rộng suốt không thời gian] và trinh sát mục tiêu cụ thể]. Chính sự ra đời của quan niệm (hay nguyên tắc tổ chức lực lượng và tiến hành chiến đấu) mới về hệ thống tự động hóa chỉ huy rây và những phát triển công nghệ có liên quan đã tạo tiền đề cho sự nảy sinh một dạng thức tác chiến mới, mà một trong những định đanh của nó là tác chiến mạng trung tâm.

VAI TRÒ

Tác chiến mạng trung tâm – hay nói đầy đủ là tác chiến lấy mạng làm trung tâm - là một dạng thức tác chiến đang gây ra những tranh luận rộng rãi trong thời gian gần đây. Có khá nhiều tranh luận, nhiều ý kiến trái chiều về dạng thức tác chiến này. Có quan niệm cho rằng, đây là một dạng thức tác chiến mang tính cách mạng. Trong văn kiện kinh điển, Tác chiến lấy mạng làm trung tâm. Nguồn gốc và Tương lai, phó đô đốc Arthur K. Cebrowski, hải quân và John J. Garstka đã viết ''Chúng ta đang nằm giữa một cuộc cách mạng quân sự (RMA) khác với bất kỳ những gì đã từng thấy kể từ thời Napoleon, khi người Pháp làm cho phương thức tiến hành chiến tranh biến đổi với quan niệm/nguyên tắc chỉ đạo ''tiến lên trong biển người'' (nguyên văn Ievée en masse), Chủ nhiệm tác chiến hải quân Mỹ, đô đốc Jay Johnson đã gọi đó là ''một chuyển dịch mang tính nền tảng từ cái mà ta gọi là tác chiến (hay phương thức tiến hành chiến tranh) lấy phương tiện mang phóng làm trung tâm sang cái ta gọi lá tác chiến lấy mạng [công nghệ thông tin] làm trung tâm”, ''nó sẽ chứng tỏ là cuộc cách mạng quân sự quan trọng nhất trong 200 năm qua''.

Đối lập khá gay gắt với quan điểm này là quan điểm của Aldo Borgu, Học viện chính sách chiến lược Australia (ASPL), cho rằng ''Tác chiến mạng trung tâm (NCW - Network-centric Warfare) đã trở thành một trào lưu chính thống trong lĩnh vực tưởng quân sự, chỉ có ít người muốn tìm hiểu và chấp nhận những hạn chế cũng như những thách thức gắn liền với quan niệm này… Nói một cách đơn giản, NCW [Chẳng qua chỉ] là một mốt mới trong tác chiến hay rộng ra - trong phương thức tiến hành chiến tranh hiện đại”.

Ngoài ra, còn nhiềụ quan niệm khác, đa dạng hơn, thể hiện những cách hiểu khá khác biệt nhau về dạng thức tác chiến đang trong giai đoạn hình thành này.

NHẬN DẠNG

Định nghĩa

Vậy, chính xác ra từ những cách quan niệm khác biệt nhau lớn đến thế người ta muốn đề cập đến khái niệm gì?

Theo sách Tác chiến lấy mạng làm trung tâm của David S.Albert và cộng sự, được phát hành trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu tập thể về C4ISR của Bộ quốc phòng Mỹ, NCW có thể được định nghĩa là:

''…một khái niệm về tác chiến có tính khả thi nhờ ưu thế thông tin, cái làm tăng sức mạnh chiến đấu bằng cách nối mạng các sensor giữa người ra quyết định và người bắn nhằm đạt tới chia sẻ thông tin cảnh báo, tăng tốc độ chỉ huy, nhịp độ tác chiến, uy lực sát thương, khả năng sống còn, và tăng thêm mức độ tự đồng bộ hóa.

Theo một cách tiếp cận khác, John Garstka gọi đây là dạng thức tác chiến kết nối mạng, ''hiểu theo nghĩa rộng là tổ hợp các chiến kỹ thuật và các quy trình hành động đang nổi lên mà một lực lượng kết nối mạng [thông tin] có thể khai thác để tạo ra ưu thế mang tính quyết định trong tiến hành chiến tranh.

Theo John Keegan tác giả cuốn Lịch sử chiến tranh, tác chiến mạng trung tâm tương đồng với bước phát triển về chất trong tiến hành chiến tranh giữa các kỷ nguyên công nghiệp và nông nghiệp ở chỗ nó cũng khai thác sự biến đổi mang tính nhảy vọt của nguồn lực chủ đạo nhằm tạo ra đột biến ưu thế chiến trường. Song nếu như trong cuộc cách mạng quân sự trước đây, đó là sự chuyển dịch giữa lấy sức người làm trung tâm sang lấy phương tiện mang phóng hay sức máy móc làm trung tâm; thì trong cuộc cách mạng quân sự này, đó là bước chuyển từ lấy phương tiện mang phóng sang lấy mạng công nghệ thông tin làm trung tâm, tức là chuyển từ dựa vào sức mạnh/ ưu thế vật chất sang dựa trên sức mạnh/ưu thế thông tin/ tri thức. Đó là nét mới, khác về chất của dạng thức tác chiến mới này. Theo Paula Kaufman, trong kỷ nguyên thông tin hiện nay, sức mạnh/lực lượng đang ngày càng bắt nguồn từ tốc độ, năng lực tiếp cận và chia sẽ thông tin hiện nay, sức mạnh lực lượng đang ngày càng bắt nguồn từ tốc độ, năng lực tiếp cận và chia sẻ thông tin.

Những ưu thế mà tác chiến mạng trung tâm đem lại trên chiến trường chủ yếu liên quan đến các cấp chiến thuật và chiến dịch, nhưng lại tác động tới mọi hoạt động quân sự, từ cấp chiến thuật tới tận cấp chiến lược. Mặc dù xây dựng ưu thế thông tin là một việc không hiển nhiên, dễ thấy, nhưng lại có thể định lượng và có thể đánh giá được tác động của nó đến các hoạt động quân sự thông qua mức độ hiệu quả khả năng sống còn và khả năng sát thương.

Một quan điểm khác, của Edmuld C.Blash, cho rằng khái niệm tác chiến mạng trung tâm nói chung là một khái niệm mới và mang tính hệ thống về tiến hành chiến tranh và xung đột vũ trang trong tương lai, “với một ưu thế nào đó về công nghệ, chứ không phải với một mạng gồm các phần tử nhân lực, chiến thuật và hậu cần truyền thống”.

Từ những cách tiếp cận trên nhìn chung có thể thấy tác chiến mạng trung tâm (NCW) là một dạng thức tác chiến:

- Có tính khả thi nhờ ưu thế thông tin;

- Có nội dung là tăng sức mạnh chiến đấu bằng cách nối mạng [công nghệ thông tin] thực thời giữa các thiết bị cảm biến (sensor), người chỉ huy và người chiến đấu;

- Nhằm mục đích chia sẻ thông tin cảnh báo, tăng tốc độ chỉ huy, uy lực sát thương, khả năng sống còn và tăng thêm mức độ tự đồng bộ hóa.

Phân biệt với các dạng thức tác chiến đã biết

Để nhận dạng tác chiến mạng trung tâm (NCW), ta cũng cần phân biệt nó với các dạng thức tiến hành chiến tranh hiện đại đã biết - tác chiến thông tin (IW/IO) và tác chiến công nghệ cao (HTW - dạng thức nòng cốt của chiến tranh công nghệ cao). Điểm giống nhau giữa các dạng thức tác chiến NCW và IW/IO là ở chỗ chúng cùng dựa trên mạng thông tin/công nghệ thông tin. Song khác biệt giữa chúng là nếu như trong dạng thức tác chiến mạng trung tâm NCW, mạng thông tin được sử dụng cho hệ thống chỉ huy tự động hóa cao, tức là mạng được dùng làm phương tiện bảo đảm chỉ huy chiến đấu; thì trong tác chiến thông tin IW/IO, mạng công nghệ thông tin vừa là phương tiện tác chiến, đối tượng tác chiến, cũng vừa là môi trường tác chiến. Đây là khác biệt cơ bản giữa tác chiến mạng trung tâm với tác chiến thông tin.

Giữa tác chiến mạng trung tâm với tác chiến công nghệ cao (HTW) dễ có sự lẫn lộn, vì lẽ chúng cùng dựa trên công nghệ thông tin nói chung, mạng công nghệ thông tin nói riêng. Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản song khá tinh tế giữa chúng là tác chiến mạng trung tâm dựa trên mạng công nghệ thông tin cao tốc - công nghệ hiện đại nhất hiện có, nhằm thực hiện trao đổi thông tin cận thực thời và tiến tới thực thời từ đó tạo ra bước đột biến trong quá trình chỉ huy quân đội và điều khiển vũ khí, dẫn tới những thay đổi về chất của chiến tranh và xung đột vũ trang.

Tóm lại, tác chiến mạng trung tâm đang được coi là bước phát mới nhất, cao nhất của tác chiến công nghệ cao, là dạng thức tác chiến của thế kỷ XXI.

CÁC THÀNH TỐ CÔNG NGHỆ

Cũng theo sách Tác chiến lấy mạng làm trung tâm của David S.Albert và cộng sự, tác chiến mạng trung tâm là thành quả của những đột phá trong bốn lĩnh vực công nghệ - sensor, xử lý dữ liệu, truyền tin và công nghệ vũ khí điều khiển chính xác.

Công nghệ hiện đại đã tạo ra những sensor, một mặt có năng lực mạnh hơn bao giờ hết, mặt khác ngày càng nhỏ nhẹ và rẻ tiền. Kết hợp lại, chúng đã cho phép kiểm soát chiến trường ở mức độ mà hai thập kỷ trước người ta không thể tưởng tượng ra. Những vệ tinh trinh sát có độ phân giải 5m của đầu những năm 90 đã và đang được thay thế bằng những vệ tinh có độ phân giải 5cm, tức là đủ sức nhận dạng từng người lính trên chiến trường với từng loại vũ khí trên tay. Trong khi đó, những vệ tinh cồng kềnh nặng hàng tấn với chi phí phóng hàng chục triệu đô la đang được thay thế bằng vệ tinh minh cỡ vài trăm kilogam, phóng với giá 1-2 triệu đô la, và tiếp đó là vệ tinh micro với khối lượng vài chục kilogam, với giá 100-200 ngàn đô la.

Song song với điều đó, năng lực thu thập dữ liệu cũng không ngừng tăng lên. Cuộc cách mạng điện tử, cái đã đặt chiếc máy tính có sức mạnh lớn hơn bao giờ hết vào hàng triệu ngôi nhà và văn phòng làm việc, cho phép người ta xử lý, đối chiếu và phân tích các dữ liệu sensor hầu như với lượng bất kỳ, rồi sau đó chuyển thông tin và mệnh lệnh trong khung thời gian cận thực thời tới bất kỳ nơi nào cần.

Trong lĩnh vực vũ khí, các thiết bị điện tử, máy móc đạo hàng giá thành hạ như Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) và các kỹ thuật chế tác “tinh xảo” hiện đại đã khiến cho vũ khí có điều khiển ngày càng có năng lực hơn và chính xác hơn so với bất kỳ lúc nào trong quá khứ. Những vũ khí chính xác cao dẫn bằng GPS (như bom JDAM, tên lửa JSOW, được coi là vũ khí chính xác cao thế hệ II), không chỉ chính xác, không phụ thuộc thời tiết, mà còn bảo đảm tính bảo mật và do đó tính bất ngờ trong sử dụng. Hơn thế, chúng có chi phí chế tạo, và do đó chi phí sử dụng thấp ngoài sức tưởng tượng. Một quả bom JDAM trên cơ sở bom Mk 82 với giá 20.000 đô la có uy lực không kém một tên lửa hành trình Tomahawk 100.000 đô la. Người ta cho rằng những vũ khí có điều khiển giá thành hạ như JDAM của Boeing đóng một vai trò quan trọng trong tác chiến mạng trung tâm, bảo đảm rằng có thể công kích mục tiêu một cách nhanh chóng, đồng thời giảm đến thấp nhất các hư hại phụ.

Một lực lượng mạng trung tâm sẽ có khả năng chia sẻ và trao đổi thông tin giữa các phần tử phân tán thau về địa lý. Những phần tử này gồm:

- Các xenxơ, bất kể quân chủng sở hữu chúng hoặc phương tiện mang chúng là gì;

- Người ra quyết định, bất kể vị trí không gian và vùng thời gian của họ;

- Các tổ chức hậu cần và bảo đảm, bất kể vị trí không gian của chúng;

- Xạ thủ, bất kể thuộc quân chủng nào, ở vị trí nào hoặc trên phương tiện mang phóng nào.

Ở nơi mà trong lĩnh vực truyền thống các chuyến bay trinh sát được tiến hành theo những khoảng đều đặn theo yêu cầu của nhà hoạch định, thì tác chiến mạng trung tâm sẽ đòi hỏi giám sát suốt ngày đêm. Có thể làm điều đó bằng cách sử dụng những máy bay giám sát rađa như E-8 Joint Stars, Astor hoặc những máy bay không người lái bay lâu như Predator, Global Hawk, hoặc Watchkeeper mới được đặt chế tạo gần đây.

TÁC CHIẾN MẠNG TRUNG TÂM ĐEM LẠI GÌ?

Mục tiêu

Như đã nêu, trong dạng thức tác chiến mạng trung tâm, đang tồn tại những nhu cầu thiết yếu đối với hệ thống truyền tin và nhất là các sensor trong việc cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời tiến đến thực thời. Đã có đòi hỏi giám sát chiến trường suốt không gian và thời gian. Đã có đòi hỏi trinh sát thực địa tỷ mỹ, cả trước cũng như sau trận đánh. Chính những nhu cầu này đã khiến hệ thống chỉ huy và điều khiển tự động hóa từ cấu hình C3I chuyển thành C4ISR. Đã xuất hiện những hệ thống C4ISR mà một điển hình đầu tiên trong số đó là hệ thống Chỉ huy chiến đấu Lực lượng XXI Lục quân Mỹ [dùng cho] từ cấp lữ đoàn trở xuống (FBCB2). Trong cuộc xâm lược Iraq năm 2003, hệ FBCB2 đã được sử dụng trên một số xe chiến đấu Bratley và xe tăng chủ lực M1A1 Abrams. Hệ cho phép tự động cập nhật thông tin thường xuyên, kể cả thông tin về vị trí quân địch và quân nhà trên bản đồ số, thay cho bản đồ trên giấy và bảo cáo thường xuyên bằng điện thanh truyền thống.

Tác chiến mạng trung tâm cũng làm tăng thêm nhu cầu bảo vệ phương tiện trinh sát, mà nếu không có thì những máy bay trinh sát có cũng như không người lái chỉ có thể chọn phương án rút chạy, nếu không muốn bị đối phương tiêu diệt. Người ta cho rằng, đây là một thực tế, nhất là khi Nga đã phát triển xong và đem xuất khẩu mẫu tên lửa phông không tầm xa thế hệ mới KS-172 Novator, tầm bắn tới 300-400 km.

Vì dựa trên mạng thông tin, tác chiến mạng trung tâm cũng làm tăng thêm nhu cầu chống nhiễu - một nhu cầu thuộc lĩnh vực tác chiến điện tử (EW), cũng như nhu cầu chống phá hoại thông tin - lĩnh vực tác chiến thông tin. Có ý kiến cho rằng quan niệm của Bộ quốc phòng Mỹ về tác chiến mạng trung tâm có thể đã đánh giá thấp năng lực tiềm tàng của các kẻ địch tương lai trong việc tước đoạt các sensor cung cấp thông tin. Thậm chí, nếu sensor có khả năng hoạt động trong nhiễu thù địch, thì một kẻ địch được trang bị thoả đáng vẫn có thể dùng các kỹ thuật đánh lừa nhằm làm sai lạc khả năng nhận biết tình huống của những lực lượng này.

Tác chiến mạng trung tâm không chỉ đơn thuần là vấn đề tạo ra một phương tiện quân dụng cơ động cao có tác dụng tương đương mạng Internet. Nó hàm ý một phương thức tiến hành chiến tranh mới, và đề cập tới cái gọi là sương mù chiến tranh. Triển vọng là nó sẽ cho phép tiến hành chiến đấu quy mô lớn với lực lượng tương đối nhỏ, phân tán hơn và cơ động hơn, một lực lượng hiện đang được định hình tại nhiều nước, khiến cho chúng có hiệu suất chiến đấu vượt ra ngoài quy mô của mình.

Theo một báo cáo của Cơ quan nghiên cứu Quốc hội Hoa kỳ (CRS) tháng 6/2004, tác chiến mạng trung tâm có các mục tiêu:

- Tự đồng bộ hóa, hoặc tiến hành những cái cần làm mà không cần những mệnh lệnh truyền thống;

- Hoàn thiện năng lực nắm bắt ý đồ của chỉ huy cấp trên;

- Hoàn thiện năng lực nắm bắt tình huống tác chiến tại mọi cấp chỉ huy;

- Tăng cường năng lực nắm bắt kiến thức tập thể của mọi lực lượng Mỹ (và đồng minh).

Hướng tới một chu trình chỉ huy liên tục

Chiến lược gia Mỹ John Boyd đã đề xuất khái niệm vòng Ooda, một chu trình gồm bốn quá trình chiến đấu - Quan sát, Định hướng, Quyết định và Hành động - để cắt nghĩa quy trình chỉ huy các lực lượng quân sự. Trong quá khứ, trình tự bốn giai đoạn này đã tác động tới hoạt động chiến đấu diễn ra dưới hình thức những bước nhảy gián đoạn về hành động. Giai đoạn hành động xen kẽ với giai đoạn phi hành động tương đối, mà trong đó các lực lượng chuẩn bị cho hành động tiếp theo thích ứng với kết quả đã (hoặc không) đạt được do hành động trước đó.

Những người đề xướng luận thuyết tác chiến mạng trung tâm coi khái niệm này là tạo khả năng đẩy nhanh vòng Ooda của các lực lượng nhà tới mức hành động chiến đấu trở thành liên tục, và làm cho vòng Ooda của đối phương bị giữ chậm tới mức không thể phản ứng có hiệu quả. Các đơn vị chiến đấu được cảnh báo tình hình chính xác sẽ không cần dừng lại và quyết định cái phải làm tiếp theo, mà sẽ liên mục hành động theo mục tiêu đã hoạch định, trong khi đối phương bị áp đảo bởi tốc độ tiến triển chiến đấu.



[1] Trong hệ thống thuật ngữ quân sự Việt Nam, trước đây và hiện nay vẫn dùng thuật ngữ Thông tin liên lạc. Ở đây, chúng tôi sử dụng thuật ngữ Truyền tin, nghĩa là trao đổi thông tin, là một thuật ngữ tương đương, song dễ phân biệt với thông tin (information), hay nội dung thông tin được truyền đạt, đồng thời cũng dễ phân biệt với thuật ngữ Truyền thông, để chỉ sự phổ biến thông tin theo một chiều (broadcasting) gắn với các phương tiện Truyền thông đại chúng (media).

Nguồn: www.bachkhoatrithuc.vn

Comments